Polnye 200 ml H/10lọ
Dung dịch truyền tĩnh mạch POLNYE chứa những thành phần sau:
Thành phần Hàm lượng trong mỗi túi (200 ml)
L – Isoleucin 1.500 mg
L- Leucin 2.000 mg
L – Lysin acetat 1.400 mg
L – Methionin 1.000 mg
L- Phenylalanin 1.000 mg
L -Threonin 500 mg
L – Tryptophan 500 mg
L – Valin 1.500 mg
L – Alanin 600 mg
L – Arginin 600 mg
L – Aspartic acid 50 mg
L – Glutamic acid 50 mg
L – Histidin 500 mg
L – Prolin 400 mg
L – Serin 200 mg
L – Tyrosin 100 mg
Glycin 300 mg
Tổng lượng acid amin 12.200 mg
Nồng độ acid amin 6,100 % kl/tt
Tá dược Hàm lượng trong mỗi túi (200 ml)
L-Cystein 50 mg
Natri bisulfit 50 mg
Acid acetic băng (điều chỉnh pH) Vừa đủ
Hàm lượng nitơ toàn phần : 8,1 mg/ml
Nồng độ acid amin tự do toàn phần : 5,90% kl/tt
Axit amin thiết yếu / axit amin không thiết yếu : 3,21Chất điện giải Na+ : khoảng 2 mEq/L
CH3COO– : khoảng 47 mEq/L
Liều dùng
Bệnh nhân suy thận mãn tính:
Truyền qua đường tĩnh mạch ngoại vi: Liều thông thường cho người trưởng thành là 200 ml/lần/ngày. Tốc độ đưa dịch vào cơ thể phải duy trì thật chậm, kéo dài từ 120 phút đến 180 phút cho mỗi túi 200 ml. Đối với người cao tuổi, trẻ nhỏ hoặc người bệnh thể trạng quá yếu, tốc độ này cần phải điều chỉnh chậm hơn nữa. Để cơ thể đồng hóa tối ưu lượng acid amin này, cần kết hợp bổ sung nguồn năng lượng tổng thể đạt tối thiểu 1.500 kcal/ngày.
Bệnh nhân đang áp dụng liệu pháp chạy thận nhân tạo (lọc máu): Dung dịch thuốc được chỉ định truyền trực tiếp vào phía tĩnh mạch của hệ thống tuần hoàn thấu tách. Thời điểm bắt đầu tiến hành là từ 60 đến 90 phút trước khi chu kỳ chạy thận kết thúc.
Trường hợp nuôi dưỡng hoàn toàn ngoài Đường tiêu hóa (TPN): Liều khuyến cáo cho người lớn là 400 ml/ngày, thực hiện truyền nhỏ giọt liên tục qua đường tĩnh mạch trung tâm. Để đạt hiệu quả sinh học cao nhất, cứ mỗi 1,6 g nitơ dung nạp vào (tương đương 200 ml dung dịch thuốc), người bệnh cần được cung cấp thêm ít nhất 500 kcal năng lượng phi protein.
Bệnh nhân suy thận cấp tính: Áp dụng trong phác đồ nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch (TPN) ở người trưởng thành. Thuốc được đưa vào cơ thể bằng kỹ thuật truyền nhỏ giọt thông qua Catheter tĩnh mạch trung tâm với liều dùng tiêu chuẩn là 400 ml/ngày. Yêu cầu bắt buộc đi kèm là phải đáp ứng tối thiểu 500 kcal năng lượng phi protein cho mỗi 1,6 g nitơ (tương ứng 200 ml thuốc) được tiêm truyền.
Cách dùng
Dùng theo đường tiêm truyền tĩnh mạch nhỏ giọt chậm, do nhân viên y tế thực hiện.
Có thể truyền qua tĩnh mạch ngoại vi hoặc tĩnh mạch trung tâm tùy mục đích điều trị và tình trạng người bệnh.
Chống chỉ định
Bệnh nhân tăng amoniac máu.
Người dị ứng với các loại thành phần có trong Dung dịch tiêm truyền Polnye Allomed
Người đang hôn mê gan hoặc có nguy cơ tiến triển đến hôn mê gan.
Bệnh nhân bị dị tật bẩm sinh trong quá trình chuyển hóa acid amin.
Tác dụng phụ
Hệ tiêu hóa: Thường gặp cảm giác buồn nôn, nôn mửa hoặc chán ăn. Hiếm khi xuất hiện tình trạng mề đay lan tỏa.
Hệ gan mật: Gây suy giảm hoặc rối loạn chức năng gan, làm tăng nồng độ các enzyme gan trong máu như AST (GOT) và ALT (GPT).
Hệ tiết niệu và thận: Chỉ số urê máu (BUN) và nồng độ creatinin huyết có xu hướng gia tăng.
Hệ tuần hoàn và tim mạch: Có thể gây cảm giác nặng ngực, đánh trống ngực, hạ hoặc tăng nhiệt độ cơ thể đột ngột (cảm giác nóng bừng hoặc lạnh người), đau nhói dọc theo đường mạch máu tiêm truyền.
Chuyển hóa dinh dưỡng: Gây ra trạng thái nhiễm acid chuyển hóa, sụt giảm lượng bicarbonat (HCO3) hoặc tăng nồng độ amoniac trong máu.
Hệ thần kinh và các phản ứng khác: Đau đầu, sốt, ngứa ngáy, phát ban ngoài da, kích ứng mũi gây ngạt mũi hoặc chảy nước mũi.
Tương tác
Hiện tại chưa có các báo cáo lâm sàng cụ thể về hiện tượng tương tác khi sử dụng đồng thời Polnye Allomed với các dược chất khác.
Tương kỵ: Khi thực hiện pha trộn hay phối hợp thêm bất kỳ một loại thuốc nào khác vào chung túi dịch truyền này, cán bộ y tế bắt buộc phải kiểm tra kỹ lưỡng nhằm đảm bảo không xảy ra hiện tượng kết tủa, lắng cặn hoặc phản ứng tương kỵ giữa các thành phần trong hỗn hợp.
Lưu ý và thận trọng
Chỉ sử dụng khi người bệnh không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng bằng đường ăn uống hoặc đường tiêu hóa.
Thận trọng ở bệnh nhân suy tim hoặc các bệnh lý tim mạch do tăng thể tích tuần hoàn có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh.
Người có tổn thương gan hoặc xuất huyết tiêu hóa cần được theo dõi chặt chẽ vì nguy cơ tăng tích lũy acid amin và amoniac.
Cần hiệu chỉnh các rối loạn điện giải hoặc mất cân bằng acid–base trước và trong quá trình điều trị.
Xử trí khi quá liều
Chế phẩm này có chứa nồng độ natri khoảng 2 mEq/1 và gốc acetat khoảng 47 mEq/1. Khi người bệnh được chỉ định dùng thuốc với dung tích lớn, hoặc tiến hành truyền phối hợp đồng thời với các dạng dung dịch chứa chất điện giải khác, nhân viên y tế cần phải thực hiện kiểm tra, giám sát chặt chẽ trạng thái cân bằng điện giải và thể tích tuần hoàn của cơ thể để có hướng điều chỉnh kịp thời, tránh tình trạng quá tải thể tích hoặc rối loạn ion máu.
Bảo quản
Thuốc Polnye Allomed nên được bảo quản nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp từ mặt trời, nhiệt độ < 30oC. Dược lực học Trong nghiên cứu trên chuột suy thận mạn áp dụng chế độ ăn ít protein, Polnye sử dụng qua đường phúc mạc trong 12 tuần giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng mà vẫn duy trì chức năng thận. Khi truyền qua tĩnh mạch trung tâm cho chuột suy thận cấp và mạn, Polnye không làm tăng amoniac máu như một số dung dịch acid amin thiết yếu khác, đồng thời nồng độ các acid amin tự do trong huyết tương vẫn được giữ gần mức bình thường. Ở chuột suy thận mạn đang lọc màng bụng, thuốc góp phần hạn chế sự giảm protein huyết tương. Trên mô hình chuột suy thận mạn, Polnye làm tăng quá trình tổng hợp protein từ leucine đánh dấu ¹⁵N tại cơ và huyết tương, đồng thời giảm thải 3-methylhistidin qua nước tiểu. Nghiên cứu trên chó suy thận mạn cho thấy thuốc cải thiện cân bằng nitơ, duy trì nồng độ ure huyết ở mức thấp và không ghi nhận buồn nôn hoặc nôn khi sử dụng [1] Dược động học Sự thay đổi nồng độ acid amin trong huyết tương: Sau khi truyền Polnye với liều 200 ml trong 2 giờ hoặc 400 ml trong 4 giờ ở người khỏe mạnh, nồng độ các acid amin thiết yếu cùng Arginin và histidin tăng lên trong thời gian truyền. Sau đó, các chỉ số này giảm dần, gần trở về mức ban đầu sau khoảng 2 giờ và phục hồi hoàn toàn trong vòng 24 giờ. Các acid amin còn lại hầu như không có sự thay đổi đáng kể. Đào thải: Acid amin từ Polnye chỉ được bài tiết qua nước tiểu với tỷ lệ nhỏ. Trong 6 giờ tính từ thời điểm bắt đầu truyền, lượng acid amin thải qua nước tiểu tương ứng khoảng 2,63% ở liều 200 ml và 1,89% ở liều 400 ml, cho thấy phần lớn được cơ thể sử dụng cho các quá trình chuyển hóa và tổng hợp protein.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.