SAXENDA 6mg/ml H/3 BÚT TIÊM CHỨA SẴN THUỐC X 3ML
Chỉ định
Thuốc Saxenda® được chỉ định như thuốc hỗ trợ cho chế độ ăn giảm calo và tăng hoạt động thể lực để quản lý cân nặng ở bệnh nhân người lớn có Chỉ số Khối Cơ thể (BMI) ban đầu là:
≥ 30 kg/m2 (béo phì).
Hoặc ≥ 27 kg/m2 đến < 30 kg/m2 (thừa cân) và có ít nhất một bệnh liên quan với cân nặng như rối loạn đường huyết (tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường tuýp 2), tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn.
Điều trị Saxenda® nên dừng sau 12 tuần với liều 3,0 mg/ngày nếu bệnh nhân không giảm ít nhất 5% cân nặng ban đầu.
Dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc sử dụng trong bệnh đái tháo đường, chất tương tự peptide -1 giống glucagon (GLP-1).
Mã ATC: A10BJ02.
Cơ chế tác dụng
Liraglutide là một chất tương tự peptide-1 giống glucagon (GLP-1) của người có gắn acyl với 97% trình tự chuỗi axit amin tương đồng với GLP-1 người nội sinh. Liraglutide gắn và hoạt hóa thụ thể GLP-1.
GLP-1 là một chất điều hòa sinh lý cảm giác ngon miệng và lượng thức ăn đưa vào, nhưng cơ chế tác dụng chính xác chưa hoàn toàn rõ ràng. Nghiên cứu trên động vật, tiêm liraglutide ngoại vi có tác động lên các vùng não đặc hiệu liên quan với điều hòa cảm giác thèm ăn, tại nơi đó liraglutide, thông qua hoạt hóa đặc hiệu thụ thể GLP-1, làm tăng cảm giác no và giảm tín hiệu đói, nhờ vậy làm giảm cân nặng cơ thể.
Tác dụng dược lực học
Liraglutide làm giảm cân nặng cơ thể người chủ yếu qua giảm khối lượng mỡ với mức giảm mỡ nội tạng nhiều hơn mỡ dưới da. Liraglutide điều chỉnh sự thèm ăn bằng cách tăng cảm giác no và chán ăn, đồng thời giảm cảm giác đói và tiêu hóa thức ăn về sau, do đó làm giảm lượng thức ăn đưa vào.
Liraglutide không làm tăng tiêu thụ năng lượng so với giả dược.
Liraglutide kích thích tiết insulin và giảm tiết glucagon theo cách phụ thuộc glucose máu, nhờ đó giảm glucose cả khi đói và sau ăn. Tác dụng giảm glucose rõ rệt hơn ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường so với người có đường huyết bình thường. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy liraglutide giúp cải thiện và duy trì chức năng của tế bào bê-ta, thể hiện qua HOMA-B, và tỷ lệ tiền insulin so với insulin.
Hiệu quả và an toàn lâm sàng
Hiệu quả và độ an toàn của liraglutide trong quản lý cân nặng kết hợp với chế độ ăn giảm calo và tăng hoạt động thể chất được nghiên cứu trong bốn thử nghiệm pha 3 ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược trên tổng số 5.358 bệnh nhân. Tham khảo kết quả 4 thực nghiệm trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Dược động học
Hấp thu
Sau khi tiêm dưới da, liraglutide được hấp thu chậm, đạt nồng độ tối đa khoảng 11 giờ sau khi dùng. Nồng độ trung bình ở trạng thái ổn định của liraglutide (diện tích dưới đường cong AUC 24) đạt khoảng 31 nmol/l ở bệnh nhân béo phì (BMI 30-40 kg/m3) sau khi dùng 3 mg liraglutide.
Tiếp xúc liraglutide tăng lên tương ứng với liều dùng. Sinh khả dụng tuyệt đối của liraglutide sau khi tiêm dưới da khoảng 55%.
Phân bố
Thể tích phân bổ trung bình rõ rệt sau khi tiêm dưới da là 20-25 I (cho một người cân nặng khoảng 100 kg).
Liraglutide được gắn kết mạnh với protein huyết tương (> 98%).
Chuyển hóa sinh học
Trong thời gian 24 giờ sau khi tiêm liều đơn liraglutide có đánh dấu phóng xạ [H] cho những người khỏe mạnh, thành phần chính lưu hành trong huyết tương là liraglutide nguyên vẹn. Hai chất chuyển hóa lượng nhỏ trong huyết tương được phát hiện ( <9% và 55% mức tiếp xúc toàn phần của hoạt tính phóng xạ trong huyết tương).
Thải trừ
Liraglutide được chuyển hóa nội sinh theo cách tương tự như các protein phân tử lớn mà không có một cơ quan đào thải chủ yếu cụ thể. Sau khi tiêm một liều (H)-liraglutide, không phát hiện liraglutide nguyên vẹn trong nước tiểu hoặc phân. Chỉ có một phần nhỏ hoạt tính phóng xạ đưa vào được đào thải dưới dạng các chất chuyển hóa gắn với liraglutide trong nước tiểu hoặc phân (lần lượt là 6% và 5%). Hoạt tính phóng xạ trong nước tiểu và phân chủ yếu được đào thải trong 6-8 ngày đầu tiên, và tương ứng với ba chất chuyển hóa nhỏ.
Trung vị độ thanh thải sau khi tiêm liraglutide dưới da là khoảng 0,9-1,4 lít/giờ với thời gian bán thải khoảng 13 giờ.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người lớn tuổi: Tuổi tác không ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của liraglutide, dựa trên các kết quả phân tích dược động học theo dân số của dữ liệu bệnh nhân thừa cân và béo phì (18-82 tuổi). Không cần điều chỉnh liều thuốc dựa trên tuổi tác.
Giới tính: Dựa trên kết quả phân tích dược động học theo dân số, phụ nữ có mức thanh thải liraglutide điều chỉnh theo cân nặng 24% thấp hơn so với nam giới. Dựa trên các dữ liệu về đáp ứng tiếp xúc, không cần điều chỉnh liều dựa trên giới tính.
Chủng tộc: Nguồn gốc chủng tộc không ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của liraglutide, dựa trên kết quả phân tích dược động học theo dân số, bao gồm bệnh nhân thừa cân và béo phì da trắng, da đen, châu Á và gốc Tây Ban Nha/không Tây Ban Nha.
Cân nặng cơ thể: Tiếp xúc với liraglutide giảm đi cùng với sự gia tăng cân nặng cơ thể trước khi điều trị. Liều hàng ngày 3,0 mg liraglutide đem lại sự tiếp xúc tốt cho toàn bộ cơ thể trong phạm vi cân nặng 60-234 kg đã được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng. Tiếp xúc với liraglutide chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân cân nặng cơ thể > 234 kg.
Suy gan: Dược động học của liraglutide với liều đơn (0,75 mg) được đánh giá trong thử nghiệm ở bệnh nhân suy gan mức độ khác nhau. Mức tiếp xúc liraglutide giảm 13-23% ở đối tượng suy gan nhẹ đến trung bình so với người khỏe mạnh. Mức tiếp xúc giảm đáng kể (44%) ở bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child Pugh > 9).
Suy thận: Trong một thử nghiệm liều đơn (0,75 mg), tiếp xúc liraglutide ở bệnh nhân suy thận bị giảm so với người có chức năng thận bình thường . Tiếp xúc liraglutide giảm tương ứng 33%, 14%, 27% và 26%, ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin, CrCI 50-80 ml/phút), trung bình (CrCl 30-50 ml/phút), và nặng (CrCl <30 ml/phút) và ở bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu.
Bệnh nhân nhi khoa: Saxenda® chưa được nghiên cứu ở các bệnh nhi.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có mối nguy hiểm đặc biệt đối với người, dựa trên các nghiên cứu thường qui về an toàn dược lý, độc tính liều nhắc lại, hoặc độc tính gen.
Đã ghi nhận có khối u tế bào C của tuyến giáp không gây tử vong trong các nghiên cứu hai năm về khả năng gây ung thư ở chuột cống và chuột nhắt. Trên chuột cống, không ghi nhận được mức nồng độ không thấy có tác hại (NOAEL). Những khối u này không tìm thấy ở khỉ được điều trị trong 20 tháng. Những phát hiện ở loài gặm nhấm có nguyên nhân từ cơ chế không gây độc gen, đặc hiệu qua trung gian thụ thể GLP-1 mà loài gặm nhấm đặc biệt nhạy cảm. Mối liên quan với người có thể thấp, nhưng không thể loại trừ hoàn toàn. Không tìm thấy các khối u khác liên quan với điều trị .
Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy tác hại trực tiếp đối với khả năng sinh sản nhưng tỷ lệ chết phôi sớm có tăng nhẹ với liều thuốc cao nhất. Sử dụng liraglutide vào giữa thai kỳ sẽ gây giảm cân nặng của động vật mẹ và giảm phát triển của thai với các ảnh hưởng không rõ rệt ở xương sườn chuột và thay đổi về bộ xương ở thỏ. Tăng trưởng thời kỳ sơ sinh ở chuột bị giảm khi cho tiếp xúc với liraglutide, và kéo dài sang thời kỳ sau cai sữa ở nhóm dùng liều cao. Chưa rõ có phải sự giảm tăng trưởng này có nguyên nhân từ giảm lượng sữa ăn vào do tác dụng trực tiếp của GLP-1 hay giảm tạo sữa ở chuột mẹ do giảm thu nhận calo.
Cách dùng Dung dịch tiêm Saxenda 6mg/ml
Cách dùng
Saxenda® chỉ dùng tiêm dưới da. Không được tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Saxenda® được tiêm một lần mỗi ngày vào bất kỳ lúc nào, không phụ thuộc bữa ăn. Nên tiêm vào vùng bụng, bắp đùi hoặc phần trên cánh tay. Có thể thay đổi vị trí và thời gian tiêm mà không cần điều chỉnh liều.
Tuy nhiên, tốt nhất là nên tiêm thời điểm thuận tiện nhất. Nếu quên tiêm một liều trong vòng 12 tiếng, bệnh nhân nên tiêm càng sớm càng tốt. Nhưng nếu thời gian tính đến liều mà nên tiếp tục liều kế tiếp của phác đồ một lần mỗi ngày, tiếp theo là dưới 12 tiếng, thì không nên tiêm bù liều đã quên tiêm.
Liều dùng
Liều khởi đầu là 0,6 mg một lần mỗi ngày. Nên tăng liều đến 3,0 mg một lần mỗi ngày với mức tăng mỗi lần 0,6 mg và cách nhau ít nhất một tuần để cải thiện dung nạp đường tiêu hóa. Nếu tăng liều lên mức kế tiếp mà không dung nạp trong hai tuần liên tiếp, nên cân nhắc dừng điều trị.
Liều hàng ngày cao hơn 3,0 mg không được khuyên dùng.
Tăng liều 4 tuần:
0,6 mg trong 1 tuần.
1,2 mg trong 1 tuần tiếp theo.
1,8 mg trong 1 tuần tiếp theo.
2,4 mg trong 1 tuần kế tiếp.
Liều duy trì: 3,0 mg.
Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2
Không nên dùng Saxenda® phối hợp với thuốc đồng vận GLP-1 khác.
Khi bắt đầu Saxenda®, nên cân nhắc giảm liều các thuốc dùng đồng thời như insulin hoặc thuốc kích thích tiết insulin (như sulfonylurea) để giảm nguy cơ hạ đường huyết.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người lớn tuổi (65 tuổi)
Không cần chỉnh liều dựa trên tuổi tác. Kinh nghiệm điều trị ở bệnh nhân ≥ 75 tuổi còn hạn chế, vì vậy việc dùng thuốc cho nhóm bệnh nhân này không được khuyến cáo (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng và Đặc tính dược động học).
Bệnh nhân suy thận
Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình (độ thanh thải creatinine ≥30 ml/phút). Không dùng Saxenda® cho các bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinine <30 ml/phút) bao gồm bệnh thận giai đoạn cuối (xem Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng, Tác dụng không mong muốn và Đặc tính dược động học).
Bệnh nhân suy gan
Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình. Không nên dùng Saxenda® cho bệnh nhân suy gan nặng và nên sử dụng thận trọng cho bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc vừa (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng và Đặc tính dược động học).
Trẻ em
Sự an toàn và hiệu quả của Saxenda® ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Làm gì khi dùng quá liều?
Từ các thử nghiệm lâm sàng và thực tế sử dụng sau khi thuốc lưu hành trên thị trường, đã có báo cáo các trường hợp dùng liraglutide quá liều lên đến 72 mg (gấp 24 lần so với liều khuyên dùng để quản lý cân nặng). Các biến cố được báo cáo bao gồm buồn nôn và nôn nhiều, đó cũng là những triệu chứng được dự kiến của quá liều liraglutide. Không có báo cáo về hạ đường huyết nặng. Tất cả bệnh nhân phục hồi mà không có biến chứng.
Khi gặp biến cố quá liều, điều trị hỗ trợ thích hợp nên được bắt đầu tùy theo các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân. Bệnh nhân nên được theo dõi dấu hiệu lâm sàng của mất nước cũng như đo glucose máu.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.



Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.